Danh sách 100 mật khẩu tệ nhất năm 2017: “123456” vẫn xếp đầu bảng

- 765 lượt xem 306 lượt tải

Nếu mật khẩu truy cập máy tính, tài khoản trực tuyến của bạn đa số là “123456”, bạn vừa giành giải thưởng mật khẩu tệ nhất năm 2017.

SplashData, công ty bảo mật, vừa đưa ra danh sách 100 mật khẩu tồi tệ nhất năm 2017. Xếp đầu bảng vẫn là mật khẩu có phần ngớ ngẩn: 123456 (một hai ba bốn năm sáu)

Từ năm 2011 đến nay, “123456” và “password” luôn thi nhau giữ vị trí đứng đầu trong danh sách mật khẩu tồi tệ. Mật khẩu tệ thứ ba dài hơn một chút: “12345678”, còn thứ tư là “qwerty”, một mật khẩu rất thân thuộc.

Đặc biệt, mật khẩu kiểu năm tuổi như “1989”; “1990”; “1991”; “1992” xuất hiện khá nhiều. Ngoài ra là một số tên thương hiệu được chú ý như “starwars”; “mercedes”; “jordan”; “ferrari”…

Số khác lại là những mật khẩu bằng tên hoặc không có ý nghĩa, một số nhỏ lại sử dụng những từ ngữ cộc cằn, thô lỗ làm mật khẩu.


Nếu mật khẩu mà bạn thường xuyên sử dụng có mặt trong danh sách dưới đây, hãy thay đổi chúng càng sớm càng tốt:

Theo 9gag

Nguồn: digimarkvn.com

– ST –
Lưu ý: Các bạn tham gia Groups để thường xuyên theo dõi và nhận những bộ tài liệu hay về Marketing nhé!


    Sau hàng loạt sự cố, Facebook tiết lộ các kỹ thuật mới giúp mang lại trải nghiệm nhanh hơn và hiệu quả hơn trong năm 2018

    - 799 lượt xem 320 lượt tải

    Ngoài ra, đây còn là chiến lược tiếp cận tới tương lai của Facebook khi định luật Moore về tốc độ cải tiến phần cứng điện toán đang chậm lại đáng kể.

    Giờ đây Facebook đang là nơi trú ngụ của hơn 2 tỷ người dùng, trong số đó có khoảng 1,37 tỷ người sử dụng nó hàng ngày. Đó còn là nơi chứa các bức ảnh, các đoạn video, tin nhắn và các nội dung khác mà lượng người dùng khổng lồ của nền tảng này sử dụng, tất cả những điều này cần đến một sức mạnh điện toán lớn ngoài sức tưởng tượng. Và đó là lý do tại sao đề tài phổ biến xuyên suốt các mục tiêu kỹ thuật trong năm 2018 là tìm ra các cách làm hiệu quả hơn và sử dụng phần mềm để giảm chi phí điện toán đó.

    Trong cuộc phỏng vấn với trang Fast Company, phó chủ tịch về kỹ thuật của Facebook, David Mortenson đã thảo luận về nhiều chủ đề, dự kiến chúng sẽ trở thành cơ sở cho các thay đổi về kỹ thuật của Facebook trong năm tới.

    Đầu tiên, Facebook, cũng như bất kỳ công ty công nghệ nào, đều phải chấp nhận một thực tế rằng định luật Moore đang chậm lại. Theo ông Mortenson giải thích, trong quá khứ, các công ty có thể dựa vào những cải tiến về phần cứng theo định luật Moore để giải quyết các nhu cầu đang gia tăng cho phần mềm ngày càng mạnh mẽ hơn nữa. Tuy nhiên, điều này sẽ không còn nữa.

     

    Điều này có nghĩa rằng, Facebook sẽ phải tìm kiếm các cách làm mới để phần mềm của mình tương thích với điều đó và chạy ngày càng hiệu quả hơn trên phần cứng của nó. Mortenson cho biết, điều đó sẽ bắt đầu bằng việc tìm kiếm loại bộ nhớ bền bỉ, có sức chịu đựng cao, và cách để giảm lượng bộ nhớ ngốn năng lượng trên các máy chủ. Do các CPU không còn trở nên nhanh hơn và mạnh hơn với tỷ lệ như trước kia được nữa, điều đó có nghĩa là các biện pháp như vậy là cách thức tốt nhất để tận dụng phần cứng hiện tại.

    Và để có được các trung tâm dữ liệu hiệu quả hơn, sử dụng ít năng lượng hơn khi chúng phải xử lý các phép tính toán với một quy mô khổng lồ, sẽ cần phải vạch ra biện pháp để phân vùng bộ nhớ lưu trữ trên nhiều nút tính toán, thay vì gắn chặt vào các nút tính toán dành riêng. Ông cho biết, cách làm này sẽ cho phép sử dụng bộ lưu trữ hiệu quả hơn.

    Xử lý nhiều hơn theo thời gian thực

    Một chủ đề khác cho năm 2018 là việc cho phép cơ sở hạ tầng của Facebook hỗ trợ việc xử lý theo thời gian thực cho các dịch vụ của công ty, thay vì chỉ hỗ trợ cho các nội dung như Live video hiện tại.

    Ông Mortenson giải thích rằng, ý tưởng này sẽ giúp các kỹ sư của họ đưa ra sản phẩm theo thời gian thực dễ dàng hơn, và không phải viết các đoạn code dành riêng cho mục đích đó.

     

    Ví dụ, hãy tưởng tượng một trong những người bạn trên Facebook của bạn khởi động một chiến dịch quyên góp. Hiện tại, các ứng dụng client của Facebook – ứng dụng trên mobile hay desktop của họ – sẽ buộc phải yêu cầu các máy chủ của nó nếu có nội dung mới bạn muốn xem hoặc nội dung sẽ hiển thị cho bạn. Đó là một hệ thống đẩy (pull system), nghĩa là ứng dụng của bạn phải liên tục ping về máy chủ để tìm kiếm nội dung mới.

    Thay vào đó, bằng cách đẩy nội dung mới – ví dụ như chiến dịch quyên góp – tới cho bạn, Facebook nghĩ rằng, bạn sẽ muốn xem nội dung đó, bạn sẽ xem được nó sớm hơn, và cuối cùng điều đó sẽ giúp cắt giảm được chi phí cho sức mạnh điện toán.

    Đưa máy học vào tất cả các lĩnh vực

    Một trong những lợi thế mà các kỹ sư của Facebook có được khi làm việc trên các sản phẩm hoặc dịch vụ mới là họ thường có thể sử dụng lại các đoạn code, vốn được viết cho các dự án khác, và lấy đoạn code đó ra từ một kho lưu trữ khổng lồ. Mortenson cho biết, nhưng đôi khi, các đoạn code thích hợp lại rất khó tìm thấy.

    Vì vậy, ông hy vọng việc sử dụng kỹ thuật máy học cho các tìm kiếm ngữ nghĩa sẽ giúp các kỹ sư tìm thấy chính xác đoạn code mà họ cần dễ dàng hơn, mà không cần viết chính xác những gì họ đang tìm kiếm.

    Một lĩnh vực khác mà ông hy vọng máy học sẽ có ích là việc lựa chọn các bài test (kiểm tra) kỹ thuật thích hợp, vốn rất cần thiết cho việc phát hiện các vấn đề khi code.

     

    Ví dụ, nếu một kỹ sư đang làm một thay đổi nhỏ với code để xử lý cách hoạt động quyên góp diễn ra như thế nào – có thể là chỉ làm nút quyên góp trở nên khác đi một chút – kỹ sư đó phải đảm bảo rằng việc thực hiện thay đổi đó không làm hỏng bất kỳ điều gì khác. Để làm được điều đó, kỹ sư đó phải chạy các bài test để đảm bảo mọi thứ hoạt động tốt. Ông Mortenson cho biết, bằng cách áp dụng kỹ thuật máy học, việc tìm ra và chạy các bài test đúng sẽ trở nên dễ dàng hơn.

    Điều này sẽ cho phép các kỹ sư tạo ra những sản phẩm mới nhanh hơn, và sửa chữa những sản phẩm họ đang làm việc với nó. Và điều đó cũng có nghĩa là nó sẽ được xuất xưởng nhanh hơn. Thêm vào đó, khi việc sử dụng máy học giúp tìm thấy đoạn code thích hợp nhanh hơn, nó sẽ giúp hạ thấp chi phí hoạt động và giúp các kỹ sư làm việc năng suất hơn.

    Để minh họa cho điều đó, Mortenson giải thích rằng, Facebook theo dõi lượng thời gian các kỹ sư của họ phải đợi mỗi khi những thay đổi của họ được committ (ghi chép) vào code cơ sở – một điều đặc biệt đáng chú ý với các kỹ sư đang làm việc trên ứng dụng Facebook cho Android. Trong năm qua, Facebook đã có thể giảm thời gian mà các kỹ sư của họ phải chờ đợi đi 75% nhờ hàng loạt các chiến thuật mới. Giờ họ đang hy vọng máy học sẽ giúp con số này còn giảm hơn nữa.

    Dự báo nhu cầu cho nội dung mới

    Rõ ràng là nhiều người dùng Facebook dành rất nhiều thời gian cho dịch vụ của họ, và thường xuyên tìm kiếm các nội dung mới. Nhưng hóa ra cũng có những thời điểm cho việc người dùng muốn các nội dung mới nhất đó. Vì vậy, công ty đang nỗ lực để có thể dự báo được thời gian đó một cách chính xác hơn – Facebook cho rằng đây sẽ là một phương pháp khác để công ty giảm được chi phí điện toán của mình.

    Nếu chúng ta có thể dự báo điều đó một cách hiệu quả.” Mortenson cho biết. “Và có sẵn các nội dung đó, đặc biệt nếu bạn trực tuyến khi đông người đang online nhất, hệ thống có thể được chuyển sang trạng thái đáp ứng được nhu cầu ở mức đỉnh điểm đó… Chúng tôi có thể giảm chi phí tổng thể của cơ sở hạ tầng và làm nó tốn ít chi phí năng lượng hơn.”

     

    Ông cho rằng, dù tập người dùng của Facebook nằm trên toàn cầu, nhưng thời gian sử dụng phổ biến nhất là vào buổi sáng theo giờ Thái Bình Dương. Khi biết được lúc nào người dùng muốn các nội dung mới nhất, hệ thống có thể chuẩn bị sẵn sàng, và “chúng tôi có thể đẩy nó tới với bạn hiệu quả hơn nhiều so với trước kia.”

    Mortenson chỉ ra quy mô rộng lớn của vấn đề này. Ông cho biết, ngay cả một bài đăng duy nhất với chỉ một hai hình ảnh và vài reaction bên dưới cũng sẽ tác động đến hàng ngàn đối tượng trong cơ sở dữ liệu về đồ thị xã hội của công ty. Thách thức ở đây là duy trì bài đăng đó được cập nhật khi nó được lưu vào bộ nhớ đệm. Mở rộng con số đó đến hàng tỷ bài đăng mà Facebook phải xử lý mỗi ngày, và bạn sẽ thấy phạm vi rộng lớn của thách thức kỹ thuật mà công ty gặp phải.

    Một giải pháp cho vấn đề này là tinh chỉnh ngôn ngữ lập trình mà Facebook đang sử dụng để theo dõi tốt hơn các đối tượng thay đổi trong bài đăng của người dùng để tối thiểu hóa sức mạnh điện toán cần thiết nhằm duy trì việc cập nhật các bài đăng đó. Ông cho biết, bằng cách này, sẽ không cần thiết phải tính toán lại mọi thay đổi của bài đăng nếu chỉ một yếu tố thay đổi.

    Và khi hỏi về các lợi ích của việc tinh chỉnh ngôn ngữ lập trình mà Facebook đang sử dụng, Mortenson cho biết. “Chúng tôi không cho rằng một ngôn ngữ mới sẽ thực sự hiệu quả nếu nó không hiệu quả hơn gấp 5 lần so với trước đây.”

    Tham khảo Fast Company

    – ST –
    Lưu ý: Các bạn tham gia Groups để thường xuyên theo dõi và nhận những bộ tài liệu hay về Marketing nhé!


      Đo lường hiệu quả quảng cáo Google Adwords

      - 927 lượt xem 371 lượt tải

      Như mọi người đều biết quảng cáo Google Adwords là hình thức quảng cáo online với chi phí thấp và hiệu quả cao khi so sánh với các hình thức quảng cáo khác. Tuy nhiên cần phân biệt giữa quảng cáo giá rẻ và quảng cáo hiệu quả. Quảng cáo Google Adwords tuy có chi thấp và hiệu quả cao so với chi phí bỏ ra nhưng điều đó không có nghĩa là quảng cáo “rẻ” như mọi người thường nghĩ.

      Nếu bạn biết rằng có hơn 50% các marketing manager cho rằng quảng cáo Google Adwords tuy có chi phí rẻ nhưng lại không mang lại hiệu quả. Nếu chỉ dựa vào những lời quảng cáo giá rẻ, để quyết định phải thực hiện ngay vì giá sao mà rẻ thế! thì xem như bạn đã bỏ qua một trong những điều quan trọng nhất khi làm marketing

      Mục tiêu của bạn là gì?

      Nếu không có mục tiêu rõ ràng thì chẳng khác nào sút bóng mà không nhắm vào khung thành kiểu như các cầu thủ của ta hay làm khi bán độ. Điều này phần nào lý giải vì sao có tới 50% các marketing manager sau khi thực hiện chiến dịch quảng cáo Google Adwords một thời gian đều không nhìn thấy kế quả mang lại.

      Dựa vào đâu để đo lường hiệu quả?

      Nếu mục tiêu là sales:

      • Bạn cần phải biết rõ, với ngân mức ngân sách bạn bỏ ra, liệu sẽ có bao nhiêu khách hàng tìm đến với bạn?
      • Bao nhiêu trong số những người này sẽ trở thành khách hàng thật sự?
      • Doanh số có được từ các khách hàng này có đủ bù vào số tiền bỏ ra và mang lại lợi nhuận cho bạn?

      Nếu bạn chỉ chăm chăm vào chi phí quá rẻ ban đầu mà quên đi những điều trên thì tốt nhất bạn không nên thực hiện bất cứ chiến dịch quảng cáo nào cả. Để có những mục tiêu cụ thể bạn cần phải có các con số cụ thể, cảm tính có thể đánh lừa bạn nhưng các con số thì không. Nếu bạn không thể có các con số trên bạn sẽ không bao giờ biết được liệu quảng cáo trên Google liệu có hiệu quả hay không.

      Đối với mục tiêu là tăng doanh số bán hàng thì việc CPC cho mỗi cú click có thể cao hơn so với mức mà bạn ước tính ban đầu nhưng điều này không quá quan trọng bằng việc những người click vào có phải khách hàng thực sự hay không. Nếu người click vào là khách hàng thực sự thì việc bạn có trả giá cho mỗi cú click cao hơn một chút cũng là điều xứng đáng.

      Có một điều chắc chắn là giá tiền bạn phải trả cho mỗi click sẽ có sự giao động nhất định tùy vào vị trí xuất hiện mẫu quảng cáo, số lượng đối thủ tham gia quảng cáo, từ khóa mà bạn chọn…

      Nếu mục tiêu là branding & client engaging bạn cần biết rõ các con số sau:

      • Impression: số lần quảng cáo xuất hiện.
      • CTR – click through rate: tỷ lệ % click vào quảng cáo so với số lần xuất hiện
      • Số click nhận được.
      • Keywords : số lượng từ khóa mà bạn chọn
      • Search Volume: số lần từ khóa đó được tìm kiếm hàng tháng trên Google. Bạn có thể tự mình kiểm tra bằng cách sử dụng keyword tool.

      Nếu chọn ngôn ngữ là tiếng Việt thì bạn nên nhìn vào các con số bên cột “monthly global search volume” do hiện tại công cụ này hỗ trợ tiếng Việt chưa tốt lắm. Nhưng chắc chắn là mức độ chính xác khoảng 90%.

      Khi mục tiêu là branding & client engaging bạn nên chọn nhiều những từ khóa chung có lượng tìm kiếm nhiều. Mẫu quảng cáo của bạn sẽ xuất hiện nhiều, tăng số lượng người click vào quảng cáo, tăng mức độ nhận biết thương hiệu, tăng lượng traffic đáng kể cho website của bạn.

      Nếu bạn chọn càng nhiều các từ khóa có lượng Search Volume lớn thì bạn cần có ngân sách phù hợp để đảm bảo việc bạn có nhiều người đến với website.

      Nếu ngân sách quá ít thì bạn sẽ nhận được rất ít người đến với website vì bạn cần luôn luôn nhớ rằng đây là hình thức tình tiền qua click. Khi mà ngân sách quá ít so với lượng tìm kiếm thì sẽ giống như là muối bỏ bể. Bạn nên cân nhắc giữa việc với cùng một số tiền đó bạn nhận được bao nhiều người đến với website của bạn từ nhiều kênh quảng cáo khác nhau như thế nào? Thời gian là bao lâu?

      Làm sao biết được traffic đến từ nguồn nào?

      Nếu bạn cùng lúc quảng cáo trên rất nhiều các kênh khác nhau như: Google Adwords, Zing, Vnexpress, Facebook, Email…

      Bạn cần có công cụ hỗ trợ để phân biệt traffic đến từ nguồn nào? Ngân sách đã bỏ ra cho từng kênh và lượng traffic mang lại từ mỗi kênh, mức độ chênh lệch là bao nhiêu để có thể tập trung ngân sách nhiều hơn cho kênh quảng cáo mang lại hiệu quả nhất.

      Bạn có thể sử dụng các công cụ sau đây: Google Analytics, Omniture, Hitslink, WebCEO, Wordtracker, Yahoo web Analytics…

      Bằng cách sử dụng các công cụ trên bạn dễ dàng hơn trong việc đeo đuổi, phân tích, đánh giá tình hình địch ta. Và bạn cũng nên yêu cầu bên cung cấp dịch vụ cung cấp cho bạn tài khoản quảng cáo Google Adwords để xem báo cáo có đúng hay không?

      >> Xem thêm: Chiến lược tối ưu hóa quảng cáo Google AdWords

        LIÊN HỆ ADSPLUS

        KHỞI TẠO CÁC CHIẾN DỊCH QUẢNG CÁO THÀNH CÔNG NGAY HÔM NAY.
        Gọi 1800.0098 Đăng ký ngay